• Categories

  • Bài Được Chú ý

  • Blog Stats

    • 48,418 hits

Ông già bán vé số

Truyện ngắn by Võ Nhật Thủ

Cứ hằng cuối tuần tui chở cả nhà đi tắm biển. Lần mô qua vòng xoay cầu Tuyên Sơn tui cũng thấy ông già ngồi bán vé số.
Hôm đầu không để ý, hôm sau vẫn thấy ổng ngồi đó. Tui dừng xe bước lại. Ổng ngồi bên chiếc nón cời, đưa tập vé số tay run run, đôi mắt mờ, mái đầu bạc trắng húi cua.
– Mua, mua… vé số giùm đi anh!
Thấy ông thiệt tội nghiệp tui mua 5 tờ, hỏi ổng chớ ông ở đâu mà ngồi bán vé số ở đây?
Ông đưa đôi tai nghễnh ngãng để nghe rồi nói, tiếng nói cũng không tròn giọng. Vợ con tui chết hết rồi! Tui ở trên Tiên Phước lận!
Tui chào, chúc ổng mong bán hết vé số.
Lên xe con gái tui cầm 5 tờ vé số xum xuê. Ba ơi! Nếu trúng số ba làm chi ba?
Tui hỏi lại: Nếu con con sẽ làm chi?
– Con sẽ tặng lại hết lại ông già bán vé số.
– He he… nhớ nghe! Trúng thiệt ba cho hết mẹ con con không ý kiến nghe!
Bữa nớ trong năm tờ trúng được 1 tờ giải tám. Tuần sau ngang qua tui bảo con gái xuống xe lại đổi lấy 5 tờ còn biếu ổng 5 tờ.

Các lần sau tui đều ghé mua. Mỗi lần mua, tui nhận được ổng nụ cười xem như là phần thưởng cho mình vì đã đem lại chút niềm vui cho ổng.
Vé chẳng lần mô trúng nữa, mấy tuần đầu con gái còn hăm hở nhưng sau ni dò hoài chẳng trúng rồi có khi dò khi không.
Tuần nọ tui qua không thấy ổng ngồi, hôm sau không thấy. Rồi tuần sau và các tuần sau đi tắm biển tui không còn thấy ổng ngồi đó nữa. Con gái tui nói là chắc chỗ ni bán ế ổng đi tìm ngồi chỗ khác, Vợ tui thì nói biết đâu ổng về quê.
Bữa nớ tui lục ví tình cờ còn hai tờ vé số mua của ổng chưa dò. Tui bật máy dò chơi xem như một chút thương cảm dành cho ổng. Không ngờ lần ni trúng thiệt mà trúng nhiều.
Nhưng chừ ổng ở mô mà tìm?

Hôm sau tui đi tìm ổng, chắc ổng già không đi xa nên mua vé số ở đại lý mô gần đây. Tui tìm đến đại lý vé số gần nhất, mô tả hình dáng. Người chủ đại lý gật đầu:
– Rứa là ông già Tâm rồi! Ổng người Tiên Phước. Mấy dạo lấy vé số ở đây đi bán rồi về xin ngủ nhờ ở đây. Hơn cả tháng ni, từ bữa ổng bị cảm vì đi bán gặp mưa ổng nhận hết tiền cọc về quê rồi!
Tui xin tên địa chỉ. Tên thì rõ địa chỉ chỉ ghi đến cấp xã không thôn, không xóm.
Tui về không nói chi chuyện 2 tấm vé số. Tui nói dối vợ là mình đi công tác xa. Hôm sau tui một mình đi Tiên Phước.

Lên đến cái xã mà người chủ đại lý cho, tui hỏi tên ổng, mô tả người thấp, đầu bạc húi cua, đi bán vé số… ai cũng lắc đầu không ai biết ông già Tâm là ông mô. Cả một ngày dong ruỗi tui không tìm được ông. Hôm sau tui lên Ủy ban xã xin gặp công an hộ tịch. Xin tìm người thân. Họ hỏi chớ ông nớ tên chi? Bao nhiêu tuổi?
Tui nói ông nớ tên Lê Văn Tâm khoảng tuổi tầm 80, 85 chi đó!
Công an tra trên danh sách. Lê Văn Tâm có nhiều Lê Văn Tâm nhưng không có ai ở độ tuổi 80, 85. Có 2 người, 1 người tuổi 50, 1 người tuổi 75 là già nhứt. Tui hỏi thôn xóm của người ở tuổi 75. Công an mới hỏi chớ tui là cái chi của ông Tâm? Tui nói tui là người bà con xa. Lạc nhau lâu quá chừ đi tìm lại.

Tui tìm đến xóm ổng. Tui nói tên người, rồi mô tả, người ta mới à lên: Ơ, biết rồi! Tên khai sinh ổng là ông Tâm nhưng ở cái làng ni ai cũng kêu ổng là ông tư Hậu nên chú hỏi thì chẳng ai biết mô!
Tui mừng quá xin được chỉ nhà, người nớ thở dài nói: Ổng mất rồi chú ơi!
Tui nghe như sét đánh: Ổng mất hồi mô? Răng mất?
Người nớ nói: Một dạo ổng bỏ nhà đi, không biết đi mô, mấy tháng trời ổng quay về, ho sù sụ rồi ốm nặng. Ổng mất mới gần tháng ni.
Tui hỏi: Chớ vợ con ổng mô?
– Ổng ở một mình, vợ mất hơn 20 năm rồi!

Tui đến nhà ổng. Nói là nhà nhưng là mái lều thì đúng hơn. Nhà bằng tre vách gạch. Tạm bợ che chắn bằng mái ngói bạc màu. Ngôi nhà vắng hoe khói hương tàn lạnh. Trên bàn thờ ông còn bức chân dung như dáng ông ngồi bán vé số cùng với tấm di ảnh bán thân đã bạc màu chắc là của vợ ổng. Tui thắp nén hương, quỳ lạy mà rằng: Ông ơi! Con tìm đến ông thì ông đã xa rồi! Con xin thắp ông nén hương gọi là duyên tri ngộ.
Hàng xóm thấy tui đến nhà thắp hương chắc thấy lạ nên vài người đến hỏi thăm. Qua hàng xóm tui mới biết ông già Tâm, à quên cuộc đời ông tư Hậu.

Hồi nớ, chiến tranh vùng này ác liệt lắm! Tiếng khóc bi ai, xác người tan thây vì đạn pháo. Dân bỏ làng mạc, ruộng đồng chạy tứ tán. Người thì xuôi Tam Kỳ, kẻ lên miền ngược chạy theo hai chiến tuyến. Ông Tư ngày nớ cũng rứa! Gia đình ly tán, ông phiêu bạt phương trời rồi bị bắt lính đi quân dịch.
Đến sau tháng 4 năm 1975 người làng mới trở về với đống hoang tàn của cuộc chiến để dựng lại nhà, cuốc lại ruộng. Lúc nớ mới biết ai còn, ai mất. Ai đoàn tụ, ai ly tan. Ông Tư trở về với chiếc chân khập khiểng của một thương phế binh cùng với người đàn bà lớn hơn ông bảy tuổi mà ông gọi là vợ.
Ông về với làng xưa nhưng không còn ai thân thích. Chiến tranh đã cướp hết rồi! Còn mình ông may mà có thêm người bạn đời ông gặp trong chiến tranh. Thực ra theo ông kể, người đàn bà ấy đã cứu và cưu mang ông khi ông bị thương trong đợt rút chạy trong ngày đầu chiến trận ở kỳ mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972. Nơi quê bà ấy chiến tranh còn ác liệt hơn cà nơi này. Cả hai sau đó lưu lạc về phương nam cho đến ngày tàn của cuộc chiến. Hai mảnh đời cùng chung số phận bởi chiến tranh đã hòa vào thành hơi thở vợ chồng mà không cần tờ đăng ký kết hôn hay phải sợ dị nghị về tuổi tác. Mơ ước đời thường là có được mụn con cứ trôi dần theo năm tháng.

Rứa mà, hai mươi năm trước người vợ của ông đã bỏ ông lại một mình. Bà ra đi vì căn bệnh ung thư quái ác. Căn bệnh của bà đã cướp của ông những thứ quý giá nhất mà ông cóp nhặt trên đời. Đó là hạnh phúc, đó là mồ hôi trên những đám ruộng và vườn tược khai phá của hai vợ chồng kể cả ngôi nhà và mảnh vườn ông đang sống. Ông bán tất để đổ vào cơn bênh. Khi bà mất ông đã sạch tay theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Ông dựng lại mái lều bây chừ sống thui thủi với chiếc chân què cùng chiếc di ảnh bán thân của người vợ qúa cố.
Cái chân như di chứng của chiến tranh cứ hành hạ ông lúc trái gió trở trời. Mới tuổi 75 vậy mà ông già khọm như tuổi 85! Mấy tháng trước ổng bỏ làng ra đi không ai biết ông đi đâu (thực ra là ông đi bán vé số như đã kể). Đến khi trở về ông tiều tụy hơn. Cơn bệnh tuổi già đổ ập xuống xác thân gầy mọn. Cơn ho sù sụ không cần thuốc men hình như ông đã biết trước điều gì sẽ đến. Ông nhờ người hàng xóm là ông Bảy Cầu gửi lại lời trăn trối. Ông bảo rằng Tui mong sớm về với bà nhà tui. Tui nhờ ông chôn tui bên mộ bà.
Rồi ông lấy ra bọc tiền còn đúng ba triệu rưỡi nói là tui còn từng đó nhờ ông và hàng xóm lo hộ cái hòm.
Hôm sau ông đi trong vòng tay và tiếng khóc tiễn đưa của người hàng xóm. Đời người vậy đó! Chiến tranh đã cướp đi của ông quá nhiều. Giờ nằm xuống không còn ai là người thân vuốt mắt khóc thương.

Tui được ông Bảy Cầu đưa đi thăm mộ. Trời ban trưa nắng cháy. Hai ngôi mộ như hai nấm đất khum khum trên ngọn đồi đầy nắng gió. Một đã được lớp thời gian bào mòn sỏi đá, một còn mới tinh tươm màu đất chưa khô. Chung quanh không một ngôi nhà, chỉ có những bụi sim dại rung rinh trong cái nắng khô cằn của miền sơn cước.
Tui thắp nén hương cho ông. Nghĩ mà thương! Số phận con người nào ai biết trước? Ông đã đi qua đời người như con thuyền ba lá trên sông. Ở đó cứ tưởng hạnh phúc vợ chồng sẽ cập tới bến cuối của cuộc đời nhưng người vợ đã nửa đời đứt gánh để ông lại một mình chống chọi với những cơn bão tố của cuộc đời. Con thuyền ông giữa sông Đời sao mà nhỏ nhoi đơn độc! Hơi thở cuối cùng hắt ra với ông có lẽ là phút giây hạnh phúc nhất. Bởi sau lằn ranh định mệnh giữa sự sống và cái chết ấy ông vĩnh biệt đời người để về với cõi thiên thu nơi ấy có người vợ thủy chung chờ mình bao năm tháng. Ông đã trả lại với đời, tất cả. Từ hình hài, hạnh phúc và nỗi đau nặng thêm vì năm tháng để cùng vợ về với cát bụi về với cõi vĩnh hằng. Không một tiếng kinh nguyện cầu, không một lời rửa tội. Ông từ biệt cõi đời trong ước nguyện nhẹ nhàng như làn khói trắng tan xa.

Trời vẫn chói chang, vũ trụ mênh mông vậy mà con người thật nhỏ bé. Thời gian là vô tận mà đời người gói lại chỉ phút giây! Hai nấm mồ rồi sẽ ra sao? Không người thân chỉ có tình hàng xóm. Ai sẽ là người chăm sóc? Tui tần mần trước mộ. Tui chỉ là khách qua đường như chiếc bóng vô tình thoáng qua đời ông trong những buổi chiều đi tắm biển và chỉ biết ông là ông già bán vé số. Khi tìm về ông, hi vọng những gì tui có được sẽ giúp ông một chút gì cho vơi khốn khó. Vậy mà ông đã lỗi hẹn cùng tui, dù hai người không một lời hẹn ước.

Chiều đó tui nhờ ông Bảy Cầu tìm cho tui mấy người thợ hồ. Khi biết ý định tui xây mộ làm ổng ngạc nhiên lắm! Cái tin tui xây mộ cho ông tư Hậu cũng nhanh chóng lan ra khắp xóm, khắp thôn. Người ta đồn đoán đủ thứ về quan hệ giữ tui với ổng. Người thì nói tui bà con bên vợ, người thì nói chắc tui là con của đồng đội cũ ổng hồi xưa. Còn tui, tui chỉ cười úp mở ai hỏi chi tui cũng gật.
Xem được ngày, đội thợ sốt sắng làm ngay. Tui ở lại nhà ông Tư, lo chu cấp tiền bạc, vật tư. Một tuần sau ngôi song mộ được xây trên đồi gò đầy nắng. Trên bia mộ, tui khắc kỹ càng hai tấm ảnh bán thân của hai vợ chồng. Cả xóm ai cũng ngạc nhiên vì họ không ngờ đời ông Tư với bao bất hạnh, gian truân đến khi nằm xuống có người thân từ trên trời rơi xuống về xây mộ cho cả hai vợ chồng. Họ nói là đời ông nghèo nhưng sống phước đức nên trời thương.
Mộ xong, tui nhờ nhà ông Bảy Cầu làm cho mâm cơm để tạ mộ và đãi đội thợ hồ cùng bà con quanh xóm.

Đó là ngày cuối tuần tui đưa vợ con về vùng quê ấy mà không nói là đi đâu, chỉ nói lên Tiên Phước thăm một người. Đến nơi tui dừng xe lại bên ngôi song mộ vừa xây hỏi vợ và con là biết mộ ai không? Tui trả lời luôn đây là mộ của ông già bán vé số. Có lẽ ngạc nhiên nhất là con gái tui vì nó không tin ông già đã mất. Vợ tui hỏi chớ mộ ni ai xây mà đẹp, tui nói là tui xây. Vợ tui không tin, con tui nói chớ tiền mô mà ba xây? Tui nhắc lại lời con: Hôm trước con nói nếu trúng vé số thì tiền con sẽ làm chi? Nó nhắc lại. Con sẽ gửi cho ông già bán vé số. Tui nói. Thì tiền trúng vé số ba đi xây mộ cho ổng.

Buổi tạ mả chỉ là mâm cơm với chén rượu nhạt mà thật cảm động, thân tình. Gia đình tui chung vui với hàng xóm quê ổng. Đến giờ người ta vẫn cứ thắc mắc tui là ai, bà con chi với ông tư Hậu? Tui kể thiệt là tui chỉ là người mua vé số. Cặp vé số trúng tui tìm ổng để gửi lại theo ước nguyện của con gái mình nhưng đến nơi thì ông Tư đã đi xa. Tiền đó không trao tận tay thì thôi tui xây cho vợ chồng ổng ngôi mộ xem nhưng chút phúc phận mà cuộc đời này dành cho ổng. Ừ đời người đã có định phần định số thì phúc phận âu cũng có kiếp, có duyên. Cả xóm ngạc nhiên mà cũng nghẹn ngào. Tui nói với ông bảy Cầu là tiền xây tui còn năm triệu. Tui xin gửi lại nhờ ổng lo các ngày giáp tuần, giáp năm, mãn chế cho ông tư Hậu

Dân làng bịn rịn chia tay tui. Bà bảy Cầu còn gửi tặng tui ký tiêu nói là đặc sản tiêu thơm Tiên Phước xem như tấm lòng chòm xóm thay mặt hồn thiêng ông tư Hậu gửi đến tui thay cho lời cảm tạ.

Trên đường về, tui ghé lại mộ. Vợ chồng cùng con gái thắp nén hương với lời nguyện cầu thay cho câu từ biệt. Con gái tui nhìn hai ngôi mộ bảo tui: Chắc dưới nớ ông bà vui lắm ba he!
Ừ, tui hình dung ông già bán vé số cùng vợ đang nắm tay nhìn tui với một nụ cười thật vui.

Đà Nẵng tháng 8 năm 2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: