• Danh mục

  • Bài Được Chú ý

  • Blog Stats

    • 44,102 hits

Cám ơn ông!

Đêm qua tui từng phút lên fb truy cập tin ông. Ông đã đến với VN, đến với nhân dân tui bằng da bằng thịt. Từng cái bắt tay, từng nụ cười của ông mới nồng ấm và thân thiện làm sao!

Ừ có chi mô mà cao lương mỹ vị? ông chọn quán bún bình dân hơn hẳn bình dân giữa thủ đô nước tui, một cái bàn gỗ chỉ đủ 2 người ngồi với 2 cái ghế nhựa. Có nằm mơ tui cũng không bao giờ dám tin một ông quan chức hạng quèn bên tui chịu ngồi ăn ở cái “xó xỉnh” nghèo hèn như rứa chớ nói gì đến ông, một tổng thống của cường quốc số 1 thế giới.

Ông dung dị quá! thân thiện quá! Ông đến với dân tui có khác chi cơn mưa đổ xuống cánh đồng khô hạn, ông đem lại cho dân tui chút ngọt lành trong cơn khát triền miên. Ừ cơn khát của cả một dân tộc được mơ về một nền tự do dân chủ. Ông có hình dung không? Hồ dân chủ nhìn ra nào có bao xa, nó cứ sóng sánh, trong lành đến khát khao, vậy mà răng vẫn cứ ngoài tầm với dân tui?

Ông biết không! Dân tui giàu lắm! Không giàu bạc giàu tiền nhưng giàu tình giàu nghĩa, giàu lòng nhân ái, giàu lòng vị tha, yêu chuộng hòa bình, khát khao dân chủ . Ông đến, ông đi chỉ có vài ngày nhưng hình ảnh ông trong quá bún, cái bắt tay nụ cười trên phố đã được dân tui tạc tượng rồi! Tượng đài ông trong mỗi người dân tui không cao siêu, không màu mè mà dung dị thân thương. Gần 90 triệu dân nhân lên chắc chắn giá trị gấp vạn lần những tượng đài vật chất phù phiếm ngoài kia cộng lại.

Ông là hiện thân của một Thiên Sứ! Thiên Sứ không đến từ Nhà Trời cũng không phải Chúa phái đến, Thiên Sứ đến từ của một nền dân chủ tự do! Ông để lại gì cho dân tui,dân tui để lại gì cho ông? Không gì cả! Chỉ có cái bắt tay nồng ấm và những ánh nhìn thân thiện.

Ông sẽ mang về với kỷ niệm cuộc đời sẽ là tình cảm vô tư có khát khao lẫn ngưỡng mộ của dân tui dành cho ông. Tui chắc thế!

Bảo tàng Quang Trung?

Ngày đầu năm này, lần đầu tiên tui đến nơi hằng mong ước Tây Sơn – Bình Định để hiểu thêm, biết thêm về Tây Sơn Tam Kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ.

Bảo tàng Quang Trung, một không gian rộng lớn, yên bình. Những ông, những bà cao cấp TW đã từng về đây tên tuổi họ được gắn cùng cây lưu niệm. Bảo tàng được xây dựng trên chính khu vườn của thân sinh ba anh em lãnh đạo phong trào Tây Sơn lịch sử.
Bảo tàng to thiệt! nhưng các bảo vật trong các phòng trưng bày nghèo nàn quá! Chỉ một mớ kiếm cùn rỉ rét, một vài khúc gỗ, còn lại là sa bàn khu vực hoặc các tranh ảnh…. Các tàng thư của một thời hào hùng lẽ nào Nguyễn Ánh – Gia Long sau khi diệt nhà Tây Sơn đã đốt hết rồi hay sao mà không thấy?

Vào đây kẻ hậu sinh như tui được chiêm bái và ngưỡng mộ một tượng thần của lịch sử: Nguyễn Huệ – Quang Trung để theo dòng lịch sử tui được tự hào với những chiến công oanh liệt gắn liền với tên tuổi người anh hùng.
Đó là trận Rạch Gầm – Xoài Mút chỉ một đêm với tài thao lược, đã cho 5 vạn quân Xiêm chôn mình nơi kênh rạch. Một chiến dịch thần tốc chỉ hơn 30 ngày với 1 vạn quân đã diệt gần 3 vạn quân Thanh khiến Tôn Sĩ nghị phải hồn xiêu phách lạc, Sầm Nghi Đống phải treo cổ chịu phận với đám xương tàn nơi gò Đống Đa.
Nhờ có vậy mà khách tham quan như tui tạm quên đi một đoạn lịch sử bi thương của dân tộc là cảnh chém giết, tranh dành quyền lực chia cắt đất nước mang đến cảnh nồi da, xáo thịt để đau thương theo lịch sử phải trãi dài trên 200 năm, để tạm quên đi cảnh trả thù voi dày, ngựa kéo của Gia Long – Nguyễn Ánh trong ngày khải hoàn diệt vong nhà Tây Sơn.

Trở về với tên gọi. Tại răng lại gọi là Bảo tàng Quang Trung?
Nơi đây là nơi phát tích của phong trào Tây Sơn mà vị thủ lĩnh là người anh cả Nguyễn Nhạc kia mà?
Nguyễn Huệ dù tài ba đến cỡ nào thì với phong trào Tây Sơn Nguyễn Huệ cũng chỉ là vị tướng, với gia đình Nguyễn Huệ cũng là người em. Từ kế sách, chiến lược ban đầu để phong trào Tây Sơn tạo thế chân vạc với Trịnh Nguyễn hai đầu công vẫn là thủ lĩnh anh cả Nguyễn Nhạc. Từ khổ nhục kế để chiếm thành Quy Nhơn hay sách lược: Bắc hòa Trịnh, Nam phạt Nguyễn vẫn là kế sách chiến lược mang đậm dấu ấn của lãnh tụ Nguyễn Nhạc.
Quốc có quốc pháp, gia có gia phong. Nguyễn Nhạc đã lên ngôi hoàng đế, đã phong cho Nguyễn Huệ là Bắc Bình Vương vậy Nguyễn Huệ lấy tư cách gì mà tự mình lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung? Lịch sử viết lại rằng lên ngôi là để thuận với lòng dân, vậy nếu Nguyễn Huệ không lên ngôi hoàng đế mà nhận (hoặc báo với Nguyễn Nhạc) đưa đại quân dẹp giặc Thanh là không thuận với lòng dân, không thuận với lẽ trời? Lịch sử hình như quá thiên kiến. Phải vậy không?
Việc Nguyễn Huệ đem quân về vây khốn anh mình ở thành Quy Nhơn là đỉnh điểm của bất hòa nội bộ nếu bình tâm mà xét thì nguyễn Huệ có… anh hùng hay không?
Nguyễn Huệ anh hùng nhưng Nguyễn Huệ không là lãnh tụ. Đất dựng tượng hay bảo tàng anh hùng xứng đáng hơn có thể là Rạch Gầm – Xoài Mút là Thăng Long – Hà Nội nới gắn liền với 2 chiến công hiển hách hoặc là Phú Xuân – Huế, nơi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ không coi anh mình ra gì đã tự mình xưng đế.
Còn nơi đây, Tây Sơn là của 3 anh em Tây Sơn tam kiệt, là Nhạc – Huệ – Lữ chứ đâu phải là nơi riêng của một Nguyễn Huệ anh hùng?

Với tui, bảo tàng Quang Trung nên thay là Bảo Tàng Tây Sơn mới hợp lẽ, mới là chính danh với lịch sử. Và, có thể, dưới suối vàng kia hồn thiêng 3 anh em dù có bất hòa lúc sinh thời cũng được mỉn cười vì sự trân trọng của lớp hậu sanh.

Tui không là nhà sử học, không là người gắn tên mình trên cây lưu niệm. Tui là tui, chỉ là khách tham quan tìm đến cội nguồn của phòng trào Tây sơn để chiêm bái và tỏ lòng ngưỡng mộ vùng đất đã tạo nên thân thế sự nghiệp của 3 anh hùng.
Việc đặt tên thế nào là của người có chức có quyền, còn câu hỏi vì răng là của tui. Không biết ai về với Bảo tàng Quang Trung có cùng suy nghĩ với tui không?

Với tui, trong đêm dài lịch sử, nơi bầu trời Tây Sơn, ba vì sao hiển hách của một thời vẫn tỏa sáng. Vì sao Nguyễn Huệ có sáng hơn nhưng ánh hào quang vẫn không thể làm lu mờ vừng sáng của hai vì sao anh em còn lại. Nếu thiếu 1 trong 3 vì sao ấy, liệu lịch sử có một phòng trào Tây Sơn, có được một vì sao Nguyễn Huệ anh hùng?

Từ biệt bảo tàng, không nén hương tui xin chắp tay trước tượng thờ ba anh hùng cầu khấn cho lịch sử dân tộc này được sang trang để con cháu các vị anh không phải hổ thẹn với các nước láng giềng.
Giặc bên ngoài vẫn cứ lăm le, đất nước đang cần lắm một Phong trào Tây Sơn, cần lắm một anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ.

01/01/2016

Tình xa

By Võ Nhật Thủ

(Tặng: ĐL Trang)

Tôi về tìm cánh phượng xưa
Câu thơ còn dở lời chưa cạn lời
Em như mây trắng ngang trời
Bỏ tôi ở lại một thời tương tư

Vở xưa nát cánh thư từ
Lòng xưa nát vụn vần thơ học trò
Lửa lòng gửi với tàn tro
rắc lời tiễn một con đò sang sông

Ngày em pháo nổ rượu hồng
Sân trường tôi đã hết trồng cây si
Biệt ly, tình nhé! Biệt ly
Trăm năm không đặng duyên gì đành thôi

Tôi về gói hết tình tôi
Chôn theo kỷ niệm những bùi ngùi thương
Tôi đi, sương gió dặm trường
Trả em, trả hết con đường tôi qua

Trả em một giọt tình xa
Giọt vui em nhận, trao ta giọt buồn.
Đà Nẵng 20/6/2016

Ông già bán vé số

Truyện ngắn by Võ Nhật Thủ

Cứ hằng cuối tuần tui chở cả nhà đi tắm biển. Lần mô qua vòng xoay cầu Tuyên Sơn tui cũng thấy ông già ngồi bán vé số.
Hôm đầu không để ý, hôm sau vẫn thấy ổng ngồi đó. Tui dừng xe bước lại. Ổng ngồi bên chiếc nón cời, đưa tập vé số tay run run, đôi mắt mờ, mái đầu bạc trắng húi cua.
– Mua, mua… vé số giùm đi anh!
Thấy ông thiệt tội nghiệp tui mua 5 tờ, hỏi ổng chớ ông ở đâu mà ngồi bán vé số ở đây?
Ông đưa đôi tai nghễnh ngãng để nghe rồi nói, tiếng nói cũng không tròn giọng. Vợ con tui chết hết rồi! Tui ở trên Tiên Phước lận!
Tui chào, chúc ổng mong bán hết vé số.
Lên xe con gái tui cầm 5 tờ vé số xum xuê. Ba ơi! Nếu trúng số ba làm chi ba?
Tui hỏi lại: Nếu con con sẽ làm chi?
– Con sẽ tặng lại hết lại ông già bán vé số.
– He he… nhớ nghe! Trúng thiệt ba cho hết mẹ con con không ý kiến nghe!
Bữa nớ trong năm tờ trúng được 1 tờ giải tám. Tuần sau ngang qua tui bảo con gái xuống xe lại đổi lấy 5 tờ còn biếu ổng 5 tờ.

Các lần sau tui đều ghé mua. Mỗi lần mua, tui nhận được ổng nụ cười xem như là phần thưởng cho mình vì đã đem lại chút niềm vui cho ổng.
Vé chẳng lần mô trúng nữa, mấy tuần đầu con gái còn hăm hở nhưng sau ni dò hoài chẳng trúng rồi có khi dò khi không.
Tuần nọ tui qua không thấy ổng ngồi, hôm sau không thấy. Rồi tuần sau và các tuần sau đi tắm biển tui không còn thấy ổng ngồi đó nữa. Con gái tui nói là chắc chỗ ni bán ế ổng đi tìm ngồi chỗ khác, Vợ tui thì nói biết đâu ổng về quê.
Bữa nớ tui lục ví tình cờ còn hai tờ vé số mua của ổng chưa dò. Tui bật máy dò chơi xem như một chút thương cảm dành cho ổng. Không ngờ lần ni trúng thiệt mà trúng nhiều.
Nhưng chừ ổng ở mô mà tìm?

Hôm sau tui đi tìm ổng, chắc ổng già không đi xa nên mua vé số ở đại lý mô gần đây. Tui tìm đến đại lý vé số gần nhất, mô tả hình dáng. Người chủ đại lý gật đầu:
– Rứa là ông già Tâm rồi! Ổng người Tiên Phước. Mấy dạo lấy vé số ở đây đi bán rồi về xin ngủ nhờ ở đây. Hơn cả tháng ni, từ bữa ổng bị cảm vì đi bán gặp mưa ổng nhận hết tiền cọc về quê rồi!
Tui xin tên địa chỉ. Tên thì rõ địa chỉ chỉ ghi đến cấp xã không thôn, không xóm.
Tui về không nói chi chuyện 2 tấm vé số. Tui nói dối vợ là mình đi công tác xa. Hôm sau tui một mình đi Tiên Phước.

Lên đến cái xã mà người chủ đại lý cho, tui hỏi tên ổng, mô tả người thấp, đầu bạc húi cua, đi bán vé số… ai cũng lắc đầu không ai biết ông già Tâm là ông mô. Cả một ngày dong ruỗi tui không tìm được ông. Hôm sau tui lên Ủy ban xã xin gặp công an hộ tịch. Xin tìm người thân. Họ hỏi chớ ông nớ tên chi? Bao nhiêu tuổi?
Tui nói ông nớ tên Lê Văn Tâm khoảng tuổi tầm 80, 85 chi đó!
Công an tra trên danh sách. Lê Văn Tâm có nhiều Lê Văn Tâm nhưng không có ai ở độ tuổi 80, 85. Có 2 người, 1 người tuổi 50, 1 người tuổi 75 là già nhứt. Tui hỏi thôn xóm của người ở tuổi 75. Công an mới hỏi chớ tui là cái chi của ông Tâm? Tui nói tui là người bà con xa. Lạc nhau lâu quá chừ đi tìm lại.

Tui tìm đến xóm ổng. Tui nói tên người, rồi mô tả, người ta mới à lên: Ơ, biết rồi! Tên khai sinh ổng là ông Tâm nhưng ở cái làng ni ai cũng kêu ổng là ông tư Hậu nên chú hỏi thì chẳng ai biết mô!
Tui mừng quá xin được chỉ nhà, người nớ thở dài nói: Ổng mất rồi chú ơi!
Tui nghe như sét đánh: Ổng mất hồi mô? Răng mất?
Người nớ nói: Một dạo ổng bỏ nhà đi, không biết đi mô, mấy tháng trời ổng quay về, ho sù sụ rồi ốm nặng. Ổng mất mới gần tháng ni.
Tui hỏi: Chớ vợ con ổng mô?
– Ổng ở một mình, vợ mất hơn 20 năm rồi!

Tui đến nhà ổng. Nói là nhà nhưng là mái lều thì đúng hơn. Nhà bằng tre vách gạch. Tạm bợ che chắn bằng mái ngói bạc màu. Ngôi nhà vắng hoe khói hương tàn lạnh. Trên bàn thờ ông còn bức chân dung như dáng ông ngồi bán vé số cùng với tấm di ảnh bán thân đã bạc màu chắc là của vợ ổng. Tui thắp nén hương, quỳ lạy mà rằng: Ông ơi! Con tìm đến ông thì ông đã xa rồi! Con xin thắp ông nén hương gọi là duyên tri ngộ.
Hàng xóm thấy tui đến nhà thắp hương chắc thấy lạ nên vài người đến hỏi thăm. Qua hàng xóm tui mới biết ông già Tâm, à quên cuộc đời ông tư Hậu.

Hồi nớ, chiến tranh vùng này ác liệt lắm! Tiếng khóc bi ai, xác người tan thây vì đạn pháo. Dân bỏ làng mạc, ruộng đồng chạy tứ tán. Người thì xuôi Tam Kỳ, kẻ lên miền ngược chạy theo hai chiến tuyến. Ông Tư ngày nớ cũng rứa! Gia đình ly tán, ông phiêu bạt phương trời rồi bị bắt lính đi quân dịch.
Đến sau tháng 4 năm 1975 người làng mới trở về với đống hoang tàn của cuộc chiến để dựng lại nhà, cuốc lại ruộng. Lúc nớ mới biết ai còn, ai mất. Ai đoàn tụ, ai ly tan. Ông Tư trở về với chiếc chân khập khiểng của một thương phế binh cùng với người đàn bà lớn hơn ông bảy tuổi mà ông gọi là vợ.
Ông về với làng xưa nhưng không còn ai thân thích. Chiến tranh đã cướp hết rồi! Còn mình ông may mà có thêm người bạn đời ông gặp trong chiến tranh. Thực ra theo ông kể, người đàn bà ấy đã cứu và cưu mang ông khi ông bị thương trong đợt rút chạy trong ngày đầu chiến trận ở kỳ mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm 1972. Nơi quê bà ấy chiến tranh còn ác liệt hơn cà nơi này. Cả hai sau đó lưu lạc về phương nam cho đến ngày tàn của cuộc chiến. Hai mảnh đời cùng chung số phận bởi chiến tranh đã hòa vào thành hơi thở vợ chồng mà không cần tờ đăng ký kết hôn hay phải sợ dị nghị về tuổi tác. Mơ ước đời thường là có được mụn con cứ trôi dần theo năm tháng.

Rứa mà, hai mươi năm trước người vợ của ông đã bỏ ông lại một mình. Bà ra đi vì căn bệnh ung thư quái ác. Căn bệnh của bà đã cướp của ông những thứ quý giá nhất mà ông cóp nhặt trên đời. Đó là hạnh phúc, đó là mồ hôi trên những đám ruộng và vườn tược khai phá của hai vợ chồng kể cả ngôi nhà và mảnh vườn ông đang sống. Ông bán tất để đổ vào cơn bênh. Khi bà mất ông đã sạch tay theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Ông dựng lại mái lều bây chừ sống thui thủi với chiếc chân què cùng chiếc di ảnh bán thân của người vợ qúa cố.
Cái chân như di chứng của chiến tranh cứ hành hạ ông lúc trái gió trở trời. Mới tuổi 75 vậy mà ông già khọm như tuổi 85! Mấy tháng trước ổng bỏ làng ra đi không ai biết ông đi đâu (thực ra là ông đi bán vé số như đã kể). Đến khi trở về ông tiều tụy hơn. Cơn bệnh tuổi già đổ ập xuống xác thân gầy mọn. Cơn ho sù sụ không cần thuốc men hình như ông đã biết trước điều gì sẽ đến. Ông nhờ người hàng xóm là ông Bảy Cầu gửi lại lời trăn trối. Ông bảo rằng Tui mong sớm về với bà nhà tui. Tui nhờ ông chôn tui bên mộ bà.
Rồi ông lấy ra bọc tiền còn đúng ba triệu rưỡi nói là tui còn từng đó nhờ ông và hàng xóm lo hộ cái hòm.
Hôm sau ông đi trong vòng tay và tiếng khóc tiễn đưa của người hàng xóm. Đời người vậy đó! Chiến tranh đã cướp đi của ông quá nhiều. Giờ nằm xuống không còn ai là người thân vuốt mắt khóc thương.

Tui được ông Bảy Cầu đưa đi thăm mộ. Trời ban trưa nắng cháy. Hai ngôi mộ như hai nấm đất khum khum trên ngọn đồi đầy nắng gió. Một đã được lớp thời gian bào mòn sỏi đá, một còn mới tinh tươm màu đất chưa khô. Chung quanh không một ngôi nhà, chỉ có những bụi sim dại rung rinh trong cái nắng khô cằn của miền sơn cước.
Tui thắp nén hương cho ông. Nghĩ mà thương! Số phận con người nào ai biết trước? Ông đã đi qua đời người như con thuyền ba lá trên sông. Ở đó cứ tưởng hạnh phúc vợ chồng sẽ cập tới bến cuối của cuộc đời nhưng người vợ đã nửa đời đứt gánh để ông lại một mình chống chọi với những cơn bão tố của cuộc đời. Con thuyền ông giữa sông Đời sao mà nhỏ nhoi đơn độc! Hơi thở cuối cùng hắt ra với ông có lẽ là phút giây hạnh phúc nhất. Bởi sau lằn ranh định mệnh giữa sự sống và cái chết ấy ông vĩnh biệt đời người để về với cõi thiên thu nơi ấy có người vợ thủy chung chờ mình bao năm tháng. Ông đã trả lại với đời, tất cả. Từ hình hài, hạnh phúc và nỗi đau nặng thêm vì năm tháng để cùng vợ về với cát bụi về với cõi vĩnh hằng. Không một tiếng kinh nguyện cầu, không một lời rửa tội. Ông từ biệt cõi đời trong ước nguyện nhẹ nhàng như làn khói trắng tan xa.

Trời vẫn chói chang, vũ trụ mênh mông vậy mà con người thật nhỏ bé. Thời gian là vô tận mà đời người gói lại chỉ phút giây! Hai nấm mồ rồi sẽ ra sao? Không người thân chỉ có tình hàng xóm. Ai sẽ là người chăm sóc? Tui tần mần trước mộ. Tui chỉ là khách qua đường như chiếc bóng vô tình thoáng qua đời ông trong những buổi chiều đi tắm biển và chỉ biết ông là ông già bán vé số. Khi tìm về ông, hi vọng những gì tui có được sẽ giúp ông một chút gì cho vơi khốn khó. Vậy mà ông đã lỗi hẹn cùng tui, dù hai người không một lời hẹn ước.

Chiều đó tui nhờ ông Bảy Cầu tìm cho tui mấy người thợ hồ. Khi biết ý định tui xây mộ làm ổng ngạc nhiên lắm! Cái tin tui xây mộ cho ông tư Hậu cũng nhanh chóng lan ra khắp xóm, khắp thôn. Người ta đồn đoán đủ thứ về quan hệ giữ tui với ổng. Người thì nói tui bà con bên vợ, người thì nói chắc tui là con của đồng đội cũ ổng hồi xưa. Còn tui, tui chỉ cười úp mở ai hỏi chi tui cũng gật.
Xem được ngày, đội thợ sốt sắng làm ngay. Tui ở lại nhà ông Tư, lo chu cấp tiền bạc, vật tư. Một tuần sau ngôi song mộ được xây trên đồi gò đầy nắng. Trên bia mộ, tui khắc kỹ càng hai tấm ảnh bán thân của hai vợ chồng. Cả xóm ai cũng ngạc nhiên vì họ không ngờ đời ông Tư với bao bất hạnh, gian truân đến khi nằm xuống có người thân từ trên trời rơi xuống về xây mộ cho cả hai vợ chồng. Họ nói là đời ông nghèo nhưng sống phước đức nên trời thương.
Mộ xong, tui nhờ nhà ông Bảy Cầu làm cho mâm cơm để tạ mộ và đãi đội thợ hồ cùng bà con quanh xóm.

Đó là ngày cuối tuần tui đưa vợ con về vùng quê ấy mà không nói là đi đâu, chỉ nói lên Tiên Phước thăm một người. Đến nơi tui dừng xe lại bên ngôi song mộ vừa xây hỏi vợ và con là biết mộ ai không? Tui trả lời luôn đây là mộ của ông già bán vé số. Có lẽ ngạc nhiên nhất là con gái tui vì nó không tin ông già đã mất. Vợ tui hỏi chớ mộ ni ai xây mà đẹp, tui nói là tui xây. Vợ tui không tin, con tui nói chớ tiền mô mà ba xây? Tui nhắc lại lời con: Hôm trước con nói nếu trúng vé số thì tiền con sẽ làm chi? Nó nhắc lại. Con sẽ gửi cho ông già bán vé số. Tui nói. Thì tiền trúng vé số ba đi xây mộ cho ổng.

Buổi tạ mả chỉ là mâm cơm với chén rượu nhạt mà thật cảm động, thân tình. Gia đình tui chung vui với hàng xóm quê ổng. Đến giờ người ta vẫn cứ thắc mắc tui là ai, bà con chi với ông tư Hậu? Tui kể thiệt là tui chỉ là người mua vé số. Cặp vé số trúng tui tìm ổng để gửi lại theo ước nguyện của con gái mình nhưng đến nơi thì ông Tư đã đi xa. Tiền đó không trao tận tay thì thôi tui xây cho vợ chồng ổng ngôi mộ xem nhưng chút phúc phận mà cuộc đời này dành cho ổng. Ừ đời người đã có định phần định số thì phúc phận âu cũng có kiếp, có duyên. Cả xóm ngạc nhiên mà cũng nghẹn ngào. Tui nói với ông bảy Cầu là tiền xây tui còn năm triệu. Tui xin gửi lại nhờ ổng lo các ngày giáp tuần, giáp năm, mãn chế cho ông tư Hậu

Dân làng bịn rịn chia tay tui. Bà bảy Cầu còn gửi tặng tui ký tiêu nói là đặc sản tiêu thơm Tiên Phước xem như tấm lòng chòm xóm thay mặt hồn thiêng ông tư Hậu gửi đến tui thay cho lời cảm tạ.

Trên đường về, tui ghé lại mộ. Vợ chồng cùng con gái thắp nén hương với lời nguyện cầu thay cho câu từ biệt. Con gái tui nhìn hai ngôi mộ bảo tui: Chắc dưới nớ ông bà vui lắm ba he!
Ừ, tui hình dung ông già bán vé số cùng vợ đang nắm tay nhìn tui với một nụ cười thật vui.

Đà Nẵng tháng 8 năm 2016

Hóc Răm mùa cỏ cháy

Quê tui một dãi ruộng chạy giữa thung lũng ba bên là núi hoặc đồi người quê tui gọi là hóc. Hóc Răm được chắn bởi ba phía là đồi, nước thủy lợi không qua được nên việc cày cấy chỉ nhờ vào nước trời mỗi năm một vụ.

Tui về lại với Hóc Răm giữa trưa hè nắng cháy. Những thửa ruộng im mình nứt nẻ, cỏ trên bờ chỉ một màu trắng bạc đang khát lắm một cơn mưa chuyển mùa.
Nắng quá! Cái nắng sao chói chang như đốt cháy người thị thành.
Ừ tui về đây, hiện thân là người thị thành bởi bao năm xa quê dong ruổi. Tui không còn chịu được cái nắng quê nhà, cái nắng của một thời tui đã sống, đã tắm, tắm đến độ đen thui khét cháy.

Tui trở về, dấu chân xưa đâu dễ tìm lại nhưng dưới chân mình nền đất nóng ran vẫn cứ thì thầm lời đón chào của Đất. Đất của tui, Đất của tuổi thơ tui vui lớn với đàn bò…

Những bờ ruộng vẫn còn đây, tui vẫn nhớ từng hang cua, từng mội lươn của từng bờ ruộng, những phiến đá trên bãi cồn ngày xưa đám chăn bò bọn tui ngồi nhẵn thín chừ đã bong lên một màu rêu mốc.
Những khoảnh đồi ngày xưa giờ đã khác, khác xa lắm! Đồi tranh không còn, đồi sim cũng mất, người ta đã thay đồi sim, gốc bứa của tui xưa bằng rừng cây lá tràm, lá keo hứa hẹn một mùa thu hoạch. Tui nhìn lên đồi sim thuở ấy, cố lục trong đám trầm tích thời gian để bươi tìm dấu xưa kỷ niệm.
Ừ còn đâu tiếng chim xưa rộn rã giữa trưa hè? Còn đâu đồi sim mà ngày xưa tui cùng đám thằng Hoa, thằng Lai dành nhau trái sim chín mọng?

Tui bước đi, như con thuyền trôi về với dòng sông tuổi thơ, dòng sông ấy không có nước sóng sánh đôi bờ, không có con thuyền cắm sào đứng đợi chỉ là dòng thời gian vô định đưa tui về với bến đậu tuổi thơ xưa. Dòng sông thực có khi cạn khốc trơ đá cát cả lòng nhưng Dòng Sông Tuổi Thơ tui chưa một lần biết cạn, cứ chảy mãi ngọt lành trong trái tim và nỗi nhớ riêng tui.

Tui lớn lên với vùng quê rứa đó! Nắng cháy mùa hè, rét mướt mùa đông. Tui mang hết tuổi thơ tui đi khắp xứ người để có lúc mình nhớ, mình thương dù chỉ mảnh ruộng khô cằn hay khao khát tìm về một đồi sim…

Có gì đâu bạn nhỉ! Những tấm hình cháy nắng này với ai đó nào có gì đáng giá nhưng với tui đó sẽ là khoảnh khắc dừng lại trong ký ức của cuộc đời.

Hóc Răm tui vẫn trần mình trong nắng cháy.
Tạm biệt!

Gửi với Tiền Hiền làng Khánh Mỹ

Lời kêu gọi.

Thân/kính gửi anh chị em, con cháu các họ tộc làng Khánh Mỹ.

Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.

Từ thế kỷ thứ XVI, Tổ tiên các tộc họ chúng ta từ Miền Bắc theo đoàn quân Nam tiến của các đời Chúa Nguyễn mở đất về Phương Nam. Cha ông ta đã dừng chân và chọn làng Khánh Mỹ làm nơi định cư trong cuộc trường chinh lịch sử.

Có lẽ điểm xuất phát của lớp người ly hương thế kỷ ấy là tầng lớp nông dân hay có thể là lớp nông dân mặc áo lính mà người làng ta không ai thành đạt trên chính trường, khoa bảng. Nhưng với bản chất cần cù, chịu thương chịu khó, cha ông ta đã dựng nên một làng Khánh Mỹ an bình.

Qua bao biến động của lịch sử, của thời gian, Khánh Mỹ đã bao lần lột xác nhưng phần Hồn vẫn là hồn thiêng muôn đời mà cha ông đã trao lại cho lớp lớp thế hệ chúng ta phải nâng niu giữ gìn.

Chúng ta hôm nay, người của nhiều thế hệ, có thể những chuyện kể về quê hương, về thời cuộc như câu chuyện cổ tích xa xưa. Ừ, có thể có người không hình dung được cây cốc núi Muôn có hình thù thế nào? Không hiểu được mạch nước giếng Làng mang ý nghĩa sống còn ra sao trong những lần hạn hán khi nước Phú Ninh chưa về? Có thể các bạn trẻ nghe xa lạ với câu ca dao người làng mình viết lại:
Công cha như cây cốc núi Muôn
Nghĩa mẹ như nước Giếng Làng chảy ra.

Vâng! Tất cả đều có Cội Nguồn của nó. Cội Nguồn là dòng chảy của lịch sử, của thời gian để đời này chúng ta được sinh ra lớn lên với Khánh Vân, Khánh Tường, Khánh lưu, Khánh Sơn, Khánh Hạ hoặc để lúc ở một nơi tha hương xa xôi nào đó, ta nghe lại dù chỉ một địa danh sao vẫn cứ dâng lên một cảm xúc thương nhớ bồi hồi…

Tổ Tiên đã có công dựng làng, chúng ta, hậu duệ của những Tiền Nhân ấy phải biết gìn giữ bản sắc muôn đời của tiền nhân dòng tộc.
Tiền Hiền làng Khánh Mỹ đã có từ lâu lắm! Không nhớ là được các thế hệ trước dựng lên từ bao giờ. Đó là nơi người làng mình đi xa có dịp quay về dịp giỗ tết thắp nén hương tưởng niệm, tri ân tiền nhân đã có công lập làng thuở trước. Theo thời gian tiền hiền đã xuống cấp, ố màu, ngã đổ. Chúng ta đi xa, người làng mình đã làm nên một nghĩa cử cao đẹp là kêu gọi dân làng chung tay dựng lại Tiền Hiền làng Khánh Mỹ to hơn, đẹp hơn, uy nghi và bề thế đủ sức chống chịu và trường tồn với thời gian.

Người làng mình đã bỏ công, bỏ sức bỏ ý chí và trí tuệ để giữ Mạch Nguồn cho thế hệ tương lai. Chúng ta, những người con của làng Khánh Mỹ vì mưu sinh đã phải rời làng, chúng ta hãy cùng hướng về Tổ Tiên, Nguồn Cội hãy gửi về lòng thành kính nhờ người ở lại tại làng thắp nén tâm nhang.

Công trình tái dựng lại Tiền Hiền làng Khánh Mỹ đang đi vào giai đoạn nước rút nhưng kinh phí thi công đang cạn kiệt. Bằng Stt này tôi xin gửi đến anh em trên mọi miền đất nước hoặc đang sống nơi hải ngoại hãy hướng về Quê Hương, hãy đóng góp bằng vật lực và tâm lực cho việc hoàn thành công trình mang ý nghĩa lịch sử này.

Một cơn gió không làm vơi vị mặn của giọt mồ hôi nhưng nhiều cơn gió sẽ xua đi những lo toan nhọc nhằn của người làng mình đang trần mình lo cho công trình ở giai đoạn nước rút.

Quý lắm thay! Thương lắm thay những tấm lòng hoài hương của các bạn.

Ru giấc ngàn năm

Bạn tui đi rồi!
Dòng buồn này tui viết về bạn. Chỉ là dòng tự sự thôi! mong bạn tui vui với giấc ngủ ngàn đời.

…………

Thôi bạn nằm lại với Gò Nổi quê chồng Diễm nhé! Để làm con dâu hiếu thảo ngàn đời. Có vầng trăng quê giữa trời khuya vằng vặc, có hương đồng gió nội, có sóng lúa rì rào ru mãi ngàn năm.

Khúc ngàn năm là lời ca dao của ông, của bà, của cha, của mẹ. Bên bốn tao nôi cho anh Chính vào đời, là khúc hát chắt chiu của bao đời nắng lửa, thắm nghĩa tình thương lắm một làng quê.

Lời ca dao có cánh diều và cả những dòng nước mắt. Đạn bom nào khóc lặng giọt mồ côi. Làng quê ấy có tuổi thơ của chồng nhọc nhằn cùng bao số phận, nhưng vẫn can trường từ giông bão lớn lên.

Ờ cái buổi ngày xưa hai người thành chồng thành vợ, bạn thương mẹ chồng tần tảo với nương dâu. Đời kén, đời tăm, nong tơ tất bật, mùa lụt năm nào lúa gặt giữa canh thâu. Nhọc nhằn ấy nhưng mỗi người Gò Nổi, vẫn ngọt ngào “Miền đất đã xanh dâu….”

Bạn bỏ lại cuộc đời với bao điều trăn trở, giáo án dở dang để đồng nghiệp viết giùm. Những công trình bên án sách chưa xong, xin giao lại lớp đàn em một ngày kia viết tiếp. Trang Facebook vẫn còn tên Truong Diem nhóm bạn bè vẫn kết nối đêm đêm, những lời comment nhóm 3C vẫn gửi vào với bạn, mình vẫn viết chuyện cười, mà giọng cứ… cà lăm!

Thôi bạn về, từ biệt kiếp trăm năm! Từ cát bụi rồi ta về cát bụi, Vô hạn là thời gian nhưng đời người là bóng câu qua cửa. Phúc phận nào cũng “sanh ký, tử quy”. Đất bạn nằm sẽ trọn nghĩa phu thê, như câu hát ca dao trọn đời chung thủy.

À ơi…
Thương nhau chín đợi, mười chờ …
Bạn về nằm lại bên bờ dâu xanh
Sông Thu sóng vỗ bên gành
Ngàn năm giấc ngủ yên lành bạn tôi

Đà Nẵng tháng 8/2015

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.